Bank Việt Nam

Trang tin Ngân hàng – Tư vấn dịch vụ ngân hàng mọi lúc mọi nơi

Bank Việt Nam

Trang tin Ngân hàng – Tư vấn dịch vụ ngân hàng mọi lúc mọi nơi

Ngân hàng đánh giá chỉ số tài chính doanh nghiệp như thế nào

Thẩm định tài chính doanh nghiệp là một trong những nội dung cơ bản mà bất cứ ngân hàng nào đều thực hiện khi cấp tín dụng doanh nghiệp. Các hệ số tài chính được sử dụng làm khung so sánh giữa các doanh nghiệp cùng ngành khi thẩm định cấp tín dụng.

Hệ số tài chính là gì, ngân hàng quan tâm đến điều gì khi đánh giá các hệ số này, nội dung dưới dây BankVietNam.net sẽ giải đáp những câu hỏi này

Hệ số tài chính là gì?

Hệ số tài chính là các chỉ sổ phản ánh sức khỏe của doanh nghiệp về các mặt thanh khoản, hoạt động kinh doanh, tài chính, được phân thành 4 nhóm hệ số chính:

  • Chỉ tiêu về thanh khoản: đánh giá khả năng thanh toán nợ ngắn hạn bằng cách sử dụng các tài sản dễ chuyển đổi thành tiền;
  • Chỉ tiêu về đòn bẩy tài chính: đo lường cơ cấu nợ so với Vốn chủ sở hữu và Tổng nguồn vốn;
  • Chỉ tiêu về khả năng hoạt động: đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp;
  • Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời: đo lường mối quan hệ giữa lợi nhuận so với doanh thu, hoặc giá trị đầu tư;
  • Chỉ tiêu đánh giá dòng tiền: đánh giá khả năng tạo tiền của doanh nghiệp.

Công thức của các chỉ số có liên quan các bạn có thể dễ dàng tra cứu trên mạng internet, ở đây BankVietNam.net nói đến ý nghĩa và đánh giá của ngân hàng qua các chỉ số này.

Chỉ số về khả năng thanh toán

Chỉ số khả năng thanh toán tập trung đánh giá phân tích vào các chỉ số như sau:

  • Hệ số thanh toán ngắn hạn: dùng để đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp trong vòng một năm tới. Hệ số thanh toán ngắn hạn này tối thiểu phải lớn hơn hoặc bằng 1. Trường hợp mà nhỏ hơn 1 tức là mất cân đối tài chính hay vốn lưu động ròng bị âm do Giá trị Tài sản ngắn hạn thấp hơn Giá trị nợ ngắn hạn. Tức là doanh nghiệp đã dùng một phần nợ ngắn hạn để đầu tư vào tài sản có tính chất dài hạn.
  • Hệ số thanh toán nhanh: đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ với nguồn tiền từ các tài sản có tính thanh khoản cao hơn so với trường hợp trên. Hệ số thanh toán nhanh kiểm tra lại một cách chặt chẽ hơn nữa khả năng hoàn tất các nghĩa vụ nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
  • Khả năng thanh toán lãi vay (dựa trên lợi nhuận): cho biết được mức độ lợi nhuận trước khi trả lãi vay đảm bảo khả năng trả nợ lãi hàng năm. Bên cạnh đó còn có chỉ số thanh toán nợ vay bao gồm cả phần tiền gốc và phần lãi vay.
  •  Khả năng thanh toán lãi vay (dựa trên dòng tiền): chỉ số này đánh giá chính xác hơn so với chỉ số dựa trên lợi nhuận ở trên do còn tính đến luân chuyển các khoản phải thu của doanh nghiệp.

Nhìn chung, các chỉ số trên phản ảnh khá rõ nét về tính thanh khoản của một doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thông thường duy trì hệ số thanh toán ngắn hạn của mình lớn hơn 1. Lớn hơn 1 quá nhiều cũng chưa phải là tốt mà cần phải đánh giá đối với cụ thể từng doanh nghiệp. Ví dụ đối với các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, phần vốn huy động để đầu tư vào các dự án được ghi nhận vào phần nguồn dài hạn. Tuy nhiên, các tài sản bất động sản đang trong quá trình xây dựng lại được ghi nhận vào hàng tồn kho đang trong quá trình hình thành. Chính điều này làm cho hệ số thanh toán của doanh nghiệp khá tốt, nhưng về mặt bản chất là tính thanh khoản của các tài sản này không dưới 12 tháng.

Chỉ tiêu về đòn bẩy tài chính

Các chỉ tiêu về tài chính tập trung phân tích vào các chỉ số sau:

  • Hệ số tự tài trợ: đánh giá mức độ tự chủ về tài chính của doanh nghiệp và khả năng bù đắp tổn thất bằng vốn chủ sở hữu. Hệ số này cao cho thấy doanh nghiệp tự chủ được khá tốt về nguồn vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Doanh nghiệp không quá dựa vào các khoản nợ để duy trì hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, với những ngành đang trong giai đoạn phát triển ổn định, mức độ rủi ro thấp thì doanh nghiệp có thể xem xét gia tăng nợ vay để phát triển hơn nữa về quy mô, gia tăng lợi nhuận, tạo bước chuẩn bị tự chủ hơn về tài chính trong trường hợp thị trường đi xuống hoặc bất lợi.
  • Hệ số đòn bẩy tài chính: thể hiện mối quan hệ giữa vốn vay và VCSH, khả năng tự chủ tài chính của doanh nghiệp và cho phép đánh giá tác động tích cực hoặc tiêu cực của việc vay vốn đến ROE. Hệ số này thì trái ngược với hệ số tự tài trợ. Các doanh nghiệp thiên về thương mại sẽ có hệ số này khá cao, một phần là do vòng quay vốn khá nhanh, tận dụng đòn bẩy tài chính tốt giúp nâng cao ROE của doanh nghiệp.
  • Hệ số tài sản cố định và hệ số thích ứng dài hạn: cho thấy mức độ ổn định của việc  đầu tư vào tài sản cố định cũng như năng lực trang trải tài sản dài hạn của doanh nghiệp. Hệ số này nên ưu tiên đánh giá hơn ở các doanh nghiệp sản xuất thay vì các doanh nghiệp thương mại do đầu tư vào tài sản cố định đóng vai trò rất quan trọng trong các doanh nghiệp sản xuất.

Chỉ tiêu về khả năng hoạt động

Chỉ tiêu về khả năng hoạt động đánh giá tốc độ của vòng quay vốn, làm căn cứ để xác định nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp, bao gồm các hệ số sau đây:

  • Hệ số vòng quay tổng tài sản: cho biết được tổng tài sản chuyển đổi bao nhiêu lần thành doanh thu trong năm. Hệ số này thay đổi khá rõ rệt giữa các doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh khác nhau. Đối với các doanh nghiệp sản xuất thì hệ số này sẽ rất thấp, trong khi đó các doanh nghiệp thương mại thì ngược lại với vòng quay tổng tài sản cao gấp nhiều lần so với doanh nghiệp sản xuất. Điều này rất dễ hiểu là do doanh nghiệp thương mại hầu như không phải đầu tư quá nhiều vào tài sản dài hạn mà chỉ tập trung chủ yếu vào tài sản ngắn hạn, có tốc độ luân chuyển lớn.
  • Chu kỳ hàng tồn kho: đánh giá hiệu quả của doanh nghiệp trong việc quản lý hàng tồn kho, đây cũng là một tiêu chuẩn để đánh giá tính thanh khoản của hàng tồn kho. Tùy từng mặt hàng nhất định mà xác định được một chu kỳ tồn kho bình quân của mặt hàng đó. Nếu như doanh nghiệp có chu kỳ hàng tồn kho dài hơn so với bình quân ngành thì có thể xem xét lại cách thức quản lý hàng tồn kho, việc quản lý tồn kho yếu kém làm gia tăng chi phí sản xuất kinh doanh.
  • Thời gian thu hồi công nợ: cho biết được số ngày bình quân cần có để chuyển các khoản phải thu thương mại thành tiền mặt, thể hiện chính sách tín dụng thương mại của doanh nghiệp. Đương nhiên là thời gian thu hồi công nợ càng thấp cho thấy được vị thế của doanh nghiệp đối với người mua, cũng như việc giảm thiểu được rủi ro nợ khó đòi.
  • Thời gian thanh toán công nợ: cho thấy được thời gian chiếm dụng vốn của doanh nghiệp đối với người bán. Thời gian thanh toán công nợ càng dài cho thấy được vị thế của doanh nghiệp đối với nhà cung cấp càng lớn.
  • Vòng quay tiền: cho biết được thời gian doanh nghiệp cần tiền để tài trợ các khoản phải thu và hàng tồn kho có tính đến thời gian chiếm dụng vốn khi mua hàng. Đây là lẽ là chỉ tiêu hợp lý và phù hợp nhất khi tính toán vốn lưu động cần thiết phục vụ hoạt động kinh doanh. Nếu như đi sâu phân tích vào chỉ số này sẽ loại bỏ đi được các yếu tố khác gây nhiễu khi tính nhu cầu vốn lưu động theo cách tính vòng quay vốn lưu động thông thường.

Chỉ tiêu về khả năng tăng trưởng

  • Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu: đánh giá mức độ tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp qua các năm. Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu này dùng để so sánh mức bình quân chung của ngành cũng như các đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên đánh giá tỷ lệ tăng trưởng doanh thu phải đi kèm với đánh giá tăng trưởng các khoản phải thu. Nếu hai tỷ lệ này tương đương nhau thì có thể thấy doanh nghiệp đang gia tăng thời gian trả chậm để thúc đẩy tăng trưởng doanh thu.
  • Tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận: cho biết được tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của khách hàng, tương tự như trường hợp doanh thu ở trên thì cần đánh giá thêm các khoản phải thu để xem về bản chất tăng trưởng lợi nhuận có thực hay không hay là bị giảm giữ tại các khoản phải thu của doanh nghiệp.

Chỉ tiêu về khả năng sinh lời

Nhóm các chỉ tiêu này bao gồm:

  • Tỷ suất lợi nhuận gộp: cho biết mức độ hiệu quả khi sử dụng các yếu tố đầu vào trong một quy trình sản xuất của doanh nghiệp. Tỷ lệ này đương nhiêu càng cao sẽ càng tốt.
  • Hệ số lãi ròng: tính toán trên cơ sở lợi nhuận thuần của doanh nghiệp, cho biết một đồng doanh thu có thể tạo ra được bao nhiêu lợi nhuận ròng trong một chu kỳ kinh doanh, đây là tỷ lệ quan trọng nhất trong việc đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
  • ROA: đánh giá được kết quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp để tạo ra lợi nhuận, từ một đồng tài sản thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, hệ số càng cao thể hiện tài sản càng hiệu quả.
  • ROE: đánh giá xem một đồng vốn chủ sở hữu mang về bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng cho chủ sở hữu. Chỉ tiêu này rất quan trọng cho các cổ đông và nhà đầu tư, ROE lớn tập trung ở các doanh nghiệp dùng đòn bẫy tài chính cao.
  • Mức sinh lời trên tài sản tài chính: cho thấy được mức sinh lời của việc đầu tư vào các tài sản tài chính như thu nhập từ cổ tức, nếu như tỷ lệ tài sản tài chính trong cơ cấu tài sản của doanh nghiệp là trọng yếu thì việc phân tích chỉ số này hết sức quan trọng.

Chỉ tiêu đánh giá dòng tiền

  • Lưu chuyển tiền từ HĐKD trên DTT: đánh giá khả năng của doanh nghiệp trong việc chuyển Doanh thu thuần thành tiền mặt, từ đó có nguồn thanh toán cho các hoạt động của doanh nghiệp.
  • Lưu chuyển tiền từ HĐKD trên VCSH: đánh giá khả năng tạo tiền của doanh nghiệp, một đồng VCSH tạo ra bao nhiêu tiền từ hoạt động kinh doanh.

Cải thiện hệ số tài chính phù hợp với đặc thù ngành ra sao?

Ngân hàng với dữ liệu tài chính của hàng trăm ngàn doanh nghiệp với nhiều ngành nghề khác nhau sẽ tính toán ra được mức trung bình các chỉ số này đối với từng nhóm ngành khác nhau. Các dữ liệu này được lưu theo thời gian hàng quý/hàng năm, do đó ngân hàng sẽ có được rất nhiều thông tin hữu ích về các chỉ số ngành này.

So sánh chỉ số tài chính của doanh nghiệp với một benchmark cụ thể cũng là một trong những nội dung chấm điểm xếp hạng tín dụng doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có các chỉ số tài chính ở mức trung bình đến tốt của ngành sẽ có điểm tài chính tốt hơn, nâng cao được điểm xếp hạng tín dụng của mình.

Các doanh nghiệp có thể tự tính toán chỉ số tài chính của mình và so sánh với một số doanh nghiệp cùng ngành, thông tin có thể được lấy từ báo cáo tài chính của các công ty niêm yết. Để các chỉ số này nằm ở mức bình quân ngành thì nên tập trung vào hoạt động kinh doanh cốt lõi, có kế hoạch tài chính rõ ràng, cân đối vốn giữa ngắn hạn và trung dài hạn.

Cán bạn có thể tham khảo thêm các nội dung về tài chính doanh nghiệp như:

  • Facebook

Leave a Comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *

This div height required for enabling the sticky sidebar